Misteri

Văn hoá PG

World News

Bước đầu học Phật

Entertainment

Văn hoá PG
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiền học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiền học. Hiển thị tất cả bài đăng

Hơi thở trị liệu thân tâm

Trong cuộc sống hàng ngày, đôi lúc chúng ta gặp phải những tình trạng hết sức căng thẳng, khó chịu và bất an. Những cảm xúc ấy được hình thành do nhiều yếu tố ngoại cảnh tác động vào, nhưng chính yếu vẫn là phát xuất từ tâm ý của mình. Bởi khi ta còn tham lam, sân hận và si mê thì sẽ dễ dàng bị phiền não khổ đau khống chế và trói buộc. Vì vậy, để trị liệu và chuyển hóa những hệ lụy khổ đau ấy, quán niệm hơi thở là liệu pháp vô cùng kỳ diệu, có khả năng chữa trị tận gốc căn bệnh tham sân si ở nơi mỗi chúng sinh.
Thật vậy, hơi thở như người mẹ hiền nuôi dưỡng cho ta khôn lớn. Hơi thở miệt mài làm việc liên tục suốt ngày đêm không bao giờ dừng nghỉ; cho dù ta có thức hay ngủ thì hơi thở vẫn chuyên cần hoạt động đều đặn, giúp cho máu huyết được lưu thông và nuôi dưỡng các tế bào của cơ thể. Hơi thở rất quan trọng và vô cùng quý giá, chỉ cần ngừng thở trong vòng một vài phút, thì kể như mọi hoạt động của thân thể và toàn bộ đời sống của con người đều bị tê liệt. Bao nhiêu công danh sự nghiệp mà ta đã cố gắng để vun đắp và gầy dựng, nhưng chỉ cần hơi thở ngừng hoạt động trong chốc lát, thì những thứ quý giá kia tự động cất cánh bay xa và mạng sống của chúng ta kể như chấm dứt. Thế mới biết đời sống của con người thật mong manh giả tạm, chẳng khác gì những hạt sương mai, như tia nắng sớm. Vì lẽ đó nên có lần Đức Phật hỏi các vị Tỳ-kheo về mạng sống của con người tồn tại trong bao lâu? Vị Tỳ-kheo đầu tiên trả lời là trong vòng vài ngày, người kế tiếp thì nói khoảng chừng một bữa ăn và vị Tỳ-kheo cuối cùng trả lời rằng, mạng sống của con người chỉ được tồn tại trong một hơi thở. Thế Tôn khen ngợi vị Tỳ-kheo này đã hiểu đạo lý (Kinh Tứ Thập Nhị Chương).
Về phương diện sức khỏe, nếu như chúng ta biết cách thực tập điều hòa hơi thở vào và hơi thở ra mỗi ngày, thì máu huyết trong cơ thể ta sẽ dễ dàng lưu thông và ngăn ngừa được nhiều chứng bệnh. Khi đến các trung tâm Yoga hoặc Thiền để thực tập thở, chúng ta thấy đời sống trở nên nhẹ nhàng và thân thể khỏe khoắn hơn. Nếu ta thở vào hoặc thở ra có ý thức, thì hơi thở ấy sẽ dài hơn và sâu hơn. Và khi ta thở vào sâu, hơi thở mang theo rất nhiều dưỡng khí trong lành vào cho cơ thể. Đến khi thở ra sẽ tống khứ những độc tố ra bên ngoài. Nhờ vậy, nên các tế bào của cơ thể được tươi nhuận, trẻ trung và sáng đẹp. Sau những buổi thực tập thiền thở, chúng ta ăn uống ngon lành và tinh thần được sảng khoái hơn.
Đề cập đến việc thực tập quán niệm hơi thở, chúng ta phải nói tới Thiền. Hiện nay ở các nước phương Tây, người ta dành nhiều thì giờ để thực tập thiền. Vì thiền đã giúp cho họ chuyển hóa được những bế tắc trong cuộc sống. Mặc dù họ dư thừa của cải vật chất, nhưng không thể giải tỏa được những khúc mắc, khó khăn trong con người của họ. Vì lẽ đó các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu về thiền. Gần đây, bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc có nhiều bài viết đề cập đến việc thực tập thiền thở để chữa bệnh. Qua sự trải nghiệm của tự thân về việc thực tập hơi thở, ông đã khám phá ra được rất nhiều điều mới lạ trong cơ thể con người. Và thiền đã giúp cho ông sáng tỏ hơn trong lĩnh vực y học cũng như hiểu rõ hơn về bản chất đích thực của đời sống. Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc khẳng định rằng: “Ở góc độ người thầy thuốc, tôi quan tâm đến thứ thiền đơn giản mà hiệu nghiệm, không “cao siêu, huyền bí và khó khăn”. Đó là thứ thiền trong đời sống hàng ngày. Nó liên quan đến sức khỏe, đến khoa học y học, được nghiên cứu và ứng dụng khá rộng rãi. Nó đã mang lại những hiệu quả rất bất ngờ. Nó chữa được nhiều căng thẳng (stress), lo âu, nhiều bệnh lý do hành vi lối sống gây ra mà thuốc men không thể chữa dứt”(Thở và thiền).
Về phương diện tinh thần, hơi thở còn có khả năng làm lắng dịu và chữa trị những cảm xúc tuyệt vọng, lo âu, sợ hãi, bất an v.v... trong ta được bình phục. Bởi sống trong cuộc đời này, bất cứ ai cũng phải đối diện với rất nhiều khó khăn và gian khổ, cho dù ta có đầy đủ điều kiện vật chất, danh vọng, địa vị… thì vẫn không ngoại lệ. Có đôi lúc, ta gặp phải những vấn đề xảy ra ngoài khả năng chịu đựng, tâm ý hoàn toàn bị phiền não và khổ đau chi phối. Để vượt qua những trở ngại ấy, tốt nhất là ta trở về với hơi thở, trở về với chính mình, để lắng nghe và nhận diện những cảm xúc trong ta. Nhờ có sự trở về và lắng nghe ấy, nên ta thấy rõ được quy trình dựng lập của bản ngã tham, sân, si.
Khổ đau luôn luôn do bản ngã tạo ra, nó được hình thành là do bóng tối của vô minh, tức sống trong mê mờ và lãng quên cái thực tại đang là. Những tâm lý buồn vui, thương nhớ, giận hờn, khó chịu, bất an… đều phát xuất từ vô minh, chấp ngã. Bản ngã luôn vướng mắc vào những gì tốt đẹp hoặc là dễ thương nhất. Ngược lại, những thứ gì xấu xa, dễ ghét thì bản ngã muốn loại trừ và tiêu diệt. Và mỗi khi hình thành quy trình này, thì con người sẽ mất tự do và dẫn tới đau khổ.
Do đó, để hóa giải những phiền não khổ đau, thì bước căn bản đầu tiên chúng ta cần phải thực tập quán niệm về hơi thở. Và sự thực tập này, đã được Đức Thế Tôn dạy như sau: “Vị khất sĩ tìm tới một khu rừng, hoặc một gốc cây, hoặc một căn nhà vắng, ngồi xuống trong tư thế kiết già, giữ thân hình ngay thẳng và thiết lập chánh niệm trước mặt mình. Người ấy thở vào với ý thức minh mẫn là mình đang thở vào. Người ấy thở ra với ý thức minh mẫn là mình đang thở ra. Thở vào một hơi dài, người ấy ý thức rằng: ta đang thở vào một hơi dài. Thở ra một hơi dài, người ấy ý thức rằng: ta đang thở ra một hơi dài. Thở vào một hơi ngắn, người ấy ý thức rằng: ta đang thở vào một hơi ngắn. Thở ra một hơi ngắn, người ấy ý thức rằng: ta đang thở ra một hơi ngắn...” ( Kinh bốn lĩnh vực quán niệm, HT.Thích Nhất Hạnh dịch).



        Đa phần các trường phái thực tập về hơi thở, người ta “dùng ý để dẫn khí”. Tức là, khi hít vào và thở ra, họ dùng tâm ý để điều khiển. Sự thực tập này, có thể phù hợp cho những ai mới bắt đầu tập thở, và nó cũng đem lại sức khỏe tốt cho con người. Tuy nhiên, để đạt tới an lạc giải thoát thực sự, thì cần phải buông bỏ ý niệm điều khiển và chủ quan của chính mình. Vì thế, Đức Thế Tôn dạy rằng: “Khi thở vào một hơi ngắn thì ta biết là thở vào một hơi ngắn, thở vào một hơi dài thì biết là dài”. Ta chỉ cần lặng lẽ quan sát hơi thở đang sinh diệt như thế nào thì ghi nhận y như thế đó, chứ không cần phải dùng ý thức xen vào để điều khiển hơi thở.
Nhờ quán niệm hơi thở một cách sâu sắc nên ta thiết lập được chánh niệm tỉnh giác, an trú trong hiện tại. Trong sự thức tỉnh cao độ ấy, tâm lặng và trí sáng giúp ta làm chủ thân tâm, khiến cho vô minh phiền não rơi rụng, không còn khả năng chi phối lên đời sống, nhờ đó tâm hồn hành giả được an lạc, thảnh thơi và tự tại.
Như vậy, hơi thở đối với đời sống của con người vô cùng quan trọng. Nếu chúng ta biết trở về để chăm sóc và lắng nghe trọn vẹn với hơi thở, thì ta sẽ khám phá ra được rất nhiều cái hay, cái đẹp mà cuộc đời đã trao tặng! Cho nên, trở về với tự thân và nhận diện hơi thở, chính là điều kiện tất yếu để chuyển hóa khổ đau, đem lại niềm hạnh phúc cho chính bản thân mình và cho cuộc đời này.
Viên Ngộ

Đường đến bình an


image
Ai đó đã ví cuộc sống như một dòng sông chảy mãi. Đặc biệt, khi chúng ta còn trẻ, cuộc sống như một chuỗi hành trình vô định, mải miết.
Bảy tuổi tôi cùng gia đình rời xa quê ở miền Bắc để vào một tỉnh tít tắp miền Nam sinh sống. Mặc dù đôi khi nhớ lại, ấn tượng buồn về sự kỳ thị người Nam kẻ Bắc vẫn làm tôi xốn xang, thì có thể nói cuộc sống ở đó khá êm đềm. Điều đáng nhớ nhất là tôi từng có cơ hội tha hồ len lỏi vào trong kho sách của thư viện nơi mẹ làm mà “khám phá thế giới” qua đủ mọi thứ sách trên đời: truyện Tây Tàu ta, tiểu thuyết, thơ ca, lịch sử, cổ tích... Tôi từng mê mẩn từ chú bé bán diêm đáng thương trong truyện cổ tích Andersen đến Khổng Minh uyên bác, hay khóc than cho chị Dậu khổ sở phải bán con…

Mười tám tuổi điểm đến kế tiếp trong hành trình di chuyển của tôi là Sài Gòn. Tôi học đại học ở đây, khá bận rộn vì phải tích luỹ thêm vô số các chứng chỉ Anh Văn, vi tính, chuyên ngành; đi dạy kèm, và yêu nữa chứ. Tuy hoạt động nhiều như vậy nhưng lắm lúc tôi vẫn cảm thấy mình thật cô đơn, cứ khắc khoải tự hỏi mình thuộc về nơi đâu? Tôi là người Bắc, là người tỉnh nọ, hay là người Sài Gòn?...

Điều đáng nói là thế giới sách đáng yêu một thời đã bị rời xa.

Một núi sự kiện

Hoà mình vào Sài Gòn năng động, phóng khoáng và vào nhịp phát triển kinh tế của đất nước thời mở cửa, trong vòng mười năm từ khi ra trường tôi làm đủ thứ công việc khác nhau, từ xuất nhập khẩu đến làm báo, PR-marketing rồi đầu tư chứng khoán. Công việc này dẫn đến công việc kia, các lớp học thêm, các hội nhóm kinh doanh lôi cuốn tôi không ngừng. Mọi thứ đều mới mẻ và hấp dẫn đối với một kẻ đam mê “khám phá thế giới” qua công việc!

Trong thế giới của kẻ nghiện việc, thời gian dành cho cuộc sống cá nhân là một điều xa xỉ. Ngôi trường phổ thông, bạn bè ngày xưa ở nơi cũ trở nên mờ nhạt và xa xôi quá, vì gia đình tôi cũng chuyển hẳn lên Sài Gòn. Mà tôi cũng chả có thời gian để chăm lo cho bố mẹ hay nghĩ đến việc yêu đương đâu. Đầu óc tôi bận rộn nạp tiếp dữ liệu cho hàng núi sự kiện mới của sự nghiệp không ngừng phát triển! Lúc nào cũng projects và projects (dự án). Mọi thứ đều phải nhanh nhanh, gấp gấp, khẩn cấp. Sống với tốc độ cao, các sự kiện mới và cũ cứ chồng mãi lên nhau, đến một lúc thành một trái núi to đùng, cao ngất!

Tôi hoàn toàn bị động trong cái vòng “kim cô”, của guồng quay công việc – dòng sông chảy mãi và một núi các sự kiện quá khứ – hiện tại – tương lai chất chồng lẫn lộn lên nhau. Thử tưởng tượng, nặng như một trái núi mà lao với tốc độ cao như vậy, khi gặp tai nạn thì sao?

Dừng lại, nhận biết và buông bỏ

Dừng lại, nhận biết và buông bỏ là những điều cơ bản cần làm nếu muốn bình an, theo đại sư Thích Nhất Hạnh. Nhờ thời gian “dừng lại” – phải tạm ngừng làm việc để chữa bệnh, tôi mới nhận biết được mình đã phóng nhanh như thế nào, từng gặp stress kinh khủng ra sao. Áp lực công việc khiến tôi nhiều lúc nóng nảy như một con điên. Không lý trí nào có thể kiềm chế lại những cơn nóng giận bộc phát như vậy vì nó có thể đến bất kỳ lúc nào, do bất kỳ trục trặc nào trong công việc.

Còn nhớ, các bài tập “thiền hành” là bước đầu tiên đưa tôi đến với bình an. Cứ thế trong suốt mấy tháng trời trị bệnh, buổi sáng và buổi tối hoặc bất cứ lúc nào có thể, tôi vừa đi bộ, hít thở sâu đều đặn, vừa lẩm nhẩm đọc các câu “thần chú” theo từng nhịp thở:

“Thở vào tâm tĩnh lặng,Thở ra miệng mỉm cười.Thở vào an trú trong hiện tạiThở ra giây phút tuyệt vời”.

Từ việc nhận biết được hơi thở của mình, con người và sự việc xung quanh cũng được cảm nhận rõ nét hơn, lúc đó ta có “chánh niệm”. Khi thở vào, thở ra tôi cố gắng ý thức được cảm xúc, suy nghĩ và hành vi của mình trong từng giây phút. Vì vậy tránh bớt đi được các trạng thái quá khích của vui, buồn hay tức giận! Nhờ nhịp thở sâu đều đặn, tôi trở nên bình tĩnh, sáng suốt hơn để lựa chọn đâu là những gì thực sự cần làm, hơn là quay cuồng vì đủ thứ công việc như trước.

Tôi cũng có thời gian đọc tiểu thuyết, xem phim tình cảm, nghe nhạc cổ điển, và đến thăm đảo Phú Quốc trong lành. Tâm hồn nhẹ nhõm thư thái mang đến cảm giác hưởng thụ được cuộc sống nhiều hơn hẳn. Tôi quyết tâm “buông bỏ” nhiều thứ trong kế hoạch phát triển sự nghiệp của mình. Rồi tiếp tục những “buông bỏ” khác: bỏ bớt đồ đạc, sách vở, internet; không tham gia các khoá học mới, tạm ngừng tạo dựng các mối quan hệ mới... sau đó sắp xếp lại mọi thứ và chỉ giữ lại những gì thực sự quan trọng. Nhờ vậy trái núi sự kiện dần dần xẹp xuống.

Tốc độ sống chậm lại, đầu óc thông thoáng, căng thẳng lắng dịu. Tôi thấy bình an!

Bình an và thế giới mới

Điều thú vị là khi đọc sách tôi cảm thấy được trở về với ký ức tuổi thơ ngày nào. Lúc này, tôi cũng có nhiều thời gian lo lắng cho gia đình hơn. Tôi còn gặp lại một số người bạn học phổ thông, khi xưa thân thiết lắm nhưng dòng thời gian chảy xiết đã làm chúng tôi lạc mất nhau. Khi hiểu ra rằng, mình thuộc về những người thân yêu, lòng tôi ấm áp hẳn và không còn bị nỗi cô đơn từ thưở sinh viên dằn vặt nữa.

Như vậy, “thiền” mang đến sự cảm nhận cuộc sống ở một chiều kích khác, sâu lắng và gần gũi với bản thân mình hơn. Tôi nhận thấy được những sở thích, đam mê hay những giá trị mình theo đuổi và sống theo bản năng nhiều hơn. Tôi đang được “trở về với chính mình”, và nó giúp tôi “bình an” giữa bộn bề cuộc sống bên ngoài.

Hoá ra, thế giới cần khám phá nhiều nhất lại chính là bản thân mình!


Thiện Đức Nguyễn Mạnh Hùng

HỌC HẠNH LẮNG NGHE


Trong đời sống hàng ngày, khi tiếp xúc với mọi người xung quanh, làm sao để ta tạo được mối quan hệ thật tốt đẹp là điều rất quan trọng. Nếu ta và những người xung quanh có sự cảm thông, hiểu biết lẫn nhau, hỗ trợ nhau trên con đường tu tập thì nguồn vui sống và niềm hạnh phúc của ta sẽ được giàu có thêm lên.
Ngược lại, ta sẽ đau khổ, lạc lõng. Sở dĩ đôi lúc giữa ta và người thân của ta có những sự hiểu lầm, hay những xung đột bất hòa, bởi vì ta không hiểu được họ, không biết lắng nghe họ.
Vì vậy, học hạnh lắng nghe để ta có thể hiểu được người khác và chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với những người xung quanh và điều rất cần thiết. Chúng ta cần học hỏi, thực tập và chia sẻ với nhau những kinh nghiệm thiết thực để giúp nhau có được nguồn an lạc và hạnh phúc trong cuộc sống vốn có nhiều bất trắc này.
Trong truyền thống Phật giáo Đại thừa có đức Bồ Tát Quán Thế Âm (Avalokitésvara) được gọi là: “Vị Bồ Tát có khả năng lắng nghe tiếng kêu thương của cuộc đời với tâm từ bi.” Ngài là người biết thông cảm với nỗi khổ của tất cả mọi loài chúng sanh. Học theo hạnh Ngài Quán Thế Âm, chúng ta hãy thực tập lắng nghe một cách sâu sắc, lắng nghe với lòng thông cảm, lắng nghe với tiếng gọi của cha mẹ tổ tiên ta, lắng nghe bạn bè ta.
Ngay cả với con cái của ta, ta cũng nên tạo cơ hội để lắng nghe những tâm tư, nỗi niềm của chúng. Nếu không lắng nghe, ta khó có thể thiết lập được những mối dây cảm thông và sự hiểu biết được, và như vậy sẽ dẫn đền sự hiểu lầm và đổ vỡ.
Học hạnh lắng nghe có nghĩa là nghe với lòng cảm thông, với tâm từ bi và không có thành kiến. Đây là điều chúng ta cần thực tập vì phần đông chúng ta không có khả năng lắng nghe. Do trong lòng của chúng ta đã có sẵn rất nhiều khổ đau, nhiều bực bội, nên ta không thể lắng nghe một cách kiên nhẫn, với từ tâm.
Nhiều người giống như một quả bom lúc nào cũng sẵn sàng nổ, khiến ta sợ đến gần họ, sợ phải tiếp xúc với học và không muốn lắng nghe họ. Chỉ một sơ sót nhỏ của người khác, cũng có thể khiến họ Phật lòng, mất bình tĩnh. Nhưng khi người khác tránh tiếp xúc với họ, họ lại nghĩ như là mọi người ghét bỏ họ. Vì thế ta phải học cách tiếp xúc với họ, đến với họ, để có thể lắng nghe họ.
Trong gia đình đôi khi ta biết là con cái của ta, người thân của ta có những khổ đau riêng, cần giải bày với chúng ta, nhưng chúng ta không muốn đến với họ để lắng nghe họ, bởi chính trong lòng chúng ta cũng đầy đau khổ, bất an. Khi lắng nghe người khác tỏ bày nỗi niềm của họ, nếu trong lòng ta cũng tràn đầy nỗi đau khổ thì nỗi khổ của ta sẽ lớn mạnh thêm khiến ta không còn đủ kiên nhẫn để nghe người khác nữa.
Những lúc đó ta cần  phải lắng đọng tâm tư của mình, trở về với hơi thở chánh niệm để nuôi dưỡng sự chút tâm và lòng từ trong ta. Ta cần phải làm cho tâm tư của mình được định tĩnh, lắng yên trước đã, rồi với tâm từ, với sự bình an ta mới có thể ngồi yên để lắng nghe, để giải tỏa những niềm đau, nỗi khổ của người đối diện với ta.
Ngay cả khi người đối diện với ta đầy tà kiến, buộc tội ta một cách oan ức, ta vẫn phải nuôi dưỡng lòng từ bi trong ta, để ta có thể tiếp tục lắng nghe họ một cách trầm tĩnh. Việc của ta là chỉ lắng nghe, ngay cả khi họ nói những điều khó nghe, sai với sự thật và vô lý. Chúng ta cần thực tập thật tinh chuyên mới có thể làm được điều này.
Trong kinh, Đức Phật thường dùng danh từ “đế thính.” Nhữ đẳng Tỳ-kheo dương đế thính. Này các thầy, hãy lắng nghe tôi nói đây. Đế thính là lắng nghe cho kỹ, là lắng nghe với tất cả tấm lòng của mình, nghe với một tâm hồn lắng dịu, không sôi động, không thành kiến. Ta phải nghe bằng trái tim rỗng không, nghe như vậy mới có thể hiểu được.
Tâm lý học Tây phương có phương pháp nghe gọi là emphatic listening, nghĩa là nghe một cách thẩm thấu, nghe và để lời nói thấm vào. Tức là vừa nghe vừa đồng nhất mình với người nói, không lên án, không có thành kiến. Khi lắng nghe những người đau khổ thì ta phải nghe với tất cả tâm hồn.
Lắng nghe như vậy thì người nói họ sẽ tin tưởng ở ta, họ sẽ nói sự thật khổ đau của họ. Muốn nghe được như vậy thì trong lòng phải đạt một trình độ tĩnh lặng và một tâm từ bi. Khi chúng ta ngồi nghe, cũng như một người bác sĩ tâm lý trị liệu, ta cần phải có trầm tĩnh, có từ bi, có tuệ giác ở trong lòng thì phẩm chất của sự trị liệu mới cao.
Nếu thực tập thiền hành, thiền tọa thì trong một tuần lễ, ta sẽ phát triển được khả năng lắng nghe một cách sâu sắc, ta sẽ giúp được người đối thoại vơi đi rất nhiều nỗi khổ đau trong lòng họ. Chỉ cần ngồi nghe thôi, bạn đã là sứ giả của Như Lai  rồi.
Lắng nghe là một phép thực tập sâu sắc, để có thể hiểu được người và có thể làm vơi bớt nỗi khổ của người nói rất nhiều. Lắng nghe là pháp môn vi diệu của Bồ Tát Quán Thế Âm mà chúng ta cần học theo. Đây là bài quán niệm về pháp môn lắng nghe:
Lạy đức Bồ Tát Quán Thế Âm. Chúng con xin học theo hạnh Ngài, biết lắng nghe cho cuộc đời bớt khổ. Ngài là trái tim biết nghe và biết hiểu. Chúng con xin chân tập ngồi nghe với tất cả sự chú tâm và thành khẩn của chúng con.
Chúng con xin tập ngồi nghe với tâm không thành kiến. Chúng con xin tập ngồi nghe mà không phán xét, không phản ứng. Chúng con xin tập ngồi nghe để hiểu. Chúng con xin nguyện ngồi nghe chăm chú để có thể hiểu được những điều đang nghe và cả những điều không nói. Chúng con biết chỉ cần lắng nghe thôi, chúng con cũng đã làm vơi bớt rất nhiều khổ đau của người khác rồi.
Theo: Trích từ sách Sống tỉnh thức trong cuộc đời

Health

tin tức