Misteri

Văn hoá PG

World News

Bước đầu học Phật

Entertainment

Văn hoá PG
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hoá PG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hoá PG. Hiển thị tất cả bài đăng

Gọi tiếng muôn trùng

Từng cánh chim vội vã bay về, tìm lại tổ ấm sau một ngày bay xa, tìm thức ăn…Bầu trời đẹp quá, nên thơ, huyền ảo, mông lung dù trải qua bao chập chùng mưa nắng thất thường.
Mặt trời ngả bóng, ánh ráng chiều thong thả toả rộng, cành cây lung lay theo cơn gió, và chúng ta có một ngày để gọi muôn trùng về trong từng sát na của cuộc sống, như từ bao đời trôi qua.
Ở nơi cuối ngả chân trời, vầng mây vẫn tròn trịa thương yêu, đem tin yêu vào cuộc sống, vì vốn dĩ cuộc sống là những bất toàn, dù mưa gió cuộc đời có là cuồng phong bão tố, dậy sóng nhân gian, nhưng cố hương của một kiếp người vẫn như bàng bạc đâu đây, trong từng bước chân, hơi thở, nụ cười. Chúng ta đi tìm gì cho đời sống, cho kiếp nhân sinh, cho nhau khi bao la vẫn vô cùng, khi bàn tay vẫy gọi là từng cơn sóng ngút ngàn lan toả, khi một niệm trở về, chỉ còn là tịch liêu mật niệm.

Chén trà chưa vơi cạn
người lữ khách đâu rồi
tìm gì trong ngày tháng
bỏ quên mảnh trăng xưa..


Đời sống không chỉ là bung ra, thổi tốc mảnh tâm, đi truy tìm tự ngã trong một chốn sơn khê nào đó, hay trong những đô thị sầm uất, trong một cõi hoang vu, khi  các mùa vẫn là suối nguồn của pháp giới, hiện hình “bất sanh bất diệt” trong các duyên khởi, có còn mất được.  Chúng ta làm gì trong những bước đi hối hả, trùng trùng, lay bờ cát huyễn, động những mảnh trăng làm rơi rụng, tan hoà trong vô cùng ảo vọng.
Em hỏi tôi đời sống là gì và có gì còn để nắm chặt trong bàn tay xưa cũ? Ta hỏi em đường đi sao vẫn bước, để tạp niệm chan hoà trong cõi tâm bao lần xao động của những đợt sóng chập chờn hư ảo? Con người hỏi nhau sao vô thường là những gì không nắm bắt được, một thoáng mây bay, một dòng sinh tử, một khởi đầu đi đến chấm dứt, một khoảng không gian gần gủi trở nên hoang vu trên đảo cô liêu, một mảnh trăng tâm bỏ hoang bám đầy rêu mốc của phiền não cuộc đời?
Ai ngồi ngắm ánh trăng rơi, ai tìm soi chiếu ốc đảo của tự tâm, ai bắt sợi mềm hơi thở, ai mỉm cười dung dị với pháp giới, ai cảm nhận được thanh tịnh đến từ nhiễm uế … người đó là người đang sống, tỉnh thức, bởi nhận thức được nhiệm mầu trong mỗi một niệm của cuộc sống.
Con đường vẫn nở hoa, để em thấy vô cùng trong hiện tại, để chúng ta có cõi lòng lắng nghe tiếng chim hót vào buổi sương mai, mà trong cuộc sống xô bồ, bận rộn, quên mắt đi lời ca thanh thót, tiếng gọi muôn trùng…
Tiếng nói đó đang ở đây, trong từng sát na một, trong những rời bỏ ảo vọng bon chen, trong một tâm trong, gương soi vọng lại. Xin đừng để bước chân hoang vỡ trên đường trở về làm tái diễn cuộc nhân sinh và nuớc mắt lại rơi xuống vì những toan tính của ái ngã, vọng tâm…


Sáng chiều nghe chim hót
nhìn dãy hoa hàng giậu
lan man trên song cửa
lặng yên ngắm mây trời

gió đong đưa hơi thở
toả ngát trời hương thơm
chừng như tiếng chuông vọng
hoà lẫn buổi sương mai

chú tiểu giật mình thức
con chim réo bờ tai
có lẽ đêm say ngủ
bỏ quên cả vọng đài

đời trôi trong tịch mặc
nghe tiếng hát muôn trùng
vô tình trong hư ảo
e đánh vỡ vầng trăng ..


một ngày Thu
03.10.2011


CS.L.H

HƯƠNG ĐỨC HẠNH

Nếu có phước, bạn được ngồi trên người, thì bạn không nên dùng uy quyền để chèn ép người, mà nên dùng đức hạnh để đối xử với người. Nếu không may mà bạn đứng ở dưới người, thì không nên sanh tâm ganh tỵ và dòm ngó địa vị của người trên, mà hãy nên giữ mình cho đoan chánh và đem sự đoan chánh ấy mà đối xử với người.

Đức hạnh của người trên, đoan chánh của người duới sẽ tạo ra một gia đình đẹp, một tổ chức đẹp, một xã hội đẹp, một quốc gia đẹp và một thế giới đẹp.
Làm thế nào để trở thành một người đức hạnh? Muốn trở thành một người đức hạnh, người ấy đối với bản thân phải luôn luôn biết nhìn kỹ những lỗi nhỏ nhặt của mình để khắc phục; phải biết thực tập nhìn sâu để thấy sự thật nơi mọi vấn đề qua hình tượng; phải biết nghe sâu để hiểu sự thực của mọi vấn đề qua ngôn ngữ, âm thanh; phải biết ngửi sâu để hiểu sự thực của mọi vấn đề qua hương thơm; phải biết nếm sâu để hiểu sự thực của mọi vấn đề qua mùi vị; phải biết tiếp xúc sâu để hiểu được sự thực của mọi vấn đề qua xúc giác; phải biết suy nghĩ sâu để hiểu được sự thực của mọi vấn đề qua tâm ý và phải biết sống khoan dung, độ lượng đối với những ai đã từng làm cho mình khốn đốn, khổ đau.
Lại nữa, mọi hành xử hay ẩn tàng đều vì lợi ích chung mà không phải vì bản thân. Ai thực tập được như vậy là người đức hạnh, là người sống có đạo và đang đi ở trong chánh đạo. Người ấy không tranh người để ngồi trên mà thường ngồi trên người; không tranh người để đứng trước mà thường đứng trước người.
Thế nào để trở thành một người đoan chánh? Muốn trở thành một người đoan chánh, người ấy luôn luôn thực tập đời sống từ hòa, và chân thực.
Thực tập lời nói từ hòa và chân thực đối với mọi người trước mặt cũng như sau lưng, bên phải cũng như bên trái, từ người bên trên cho đến người bên dưới.
Thực tập những hành xử từ hòa và chân thực đối với mọi người trước mặt cũng như sau lưng, bên phải cũng như bên trái, từ người bên trên cho đến người bên dưới.
Thực tập tâm ý từ hòa và chân thực đối với mọi người trước mặt cũng như sau lưng, bên phải cũng như bên trái, từ người bên trên cho đến người bên dưới.
Người nào sống với đời sống có những chất liệu như vậy là người đoan chánh. Người ấy là người sống có đạo và đang đi ở trong chánh đạo.
Người ấy ở trong mọi người không trang sức bất cứ loại sắc phục và mỹ phẩm nào, mà vẫn đoan chánh và đẹp đẽ hơn người; không xông ướp bất cứ loại dầu thơm nào mà vẫn thơm tho hơn người. Vì sao? Vì người ấy là người đức hạnh vậy.
ngon tay
Trăng Vẫn Yên Bình
Những hiện tượng mưa bão, sấm sét, mây gió, sương mù,… không hềảnh hưởng gì đến sự yên bình và trong sáng của trăng.
Ấy chỉ là những hiện tượng che khuất trăng đối với những hiện tượng bịcuốn hút bởi chúng. Ta đang bị cuốn hút bởi những hiện tượng ấy, hay bị chekhuất bởi những hiện tượng ấy, thì ta sẽ không bao giờ thấy trăng.
Ta không thấy trăng và sự an bình của nó là do ta, chứ không phải dotrăng. Trăng yên bình vẫn mãi còn đó cho ta.
Cũng vậy, những dông bão hơn thua, tranh giành triệt hạ bôi nhọ nhau,chúng chỉ là những hiện tượng của vọng tưởng, của vô minh và chấp ngã, nókhông hề làm cho phật tính nơi tự thân của mỗi người mất đi sự sáng trong vàyên bình vốn có của nó.
Chỉ cần ta ngồi yên, để cho những vọng tưởng nơi tâm ta lắng xuống làtức khắc Phật tính nơi tự thân của ta hiện ra, soi sáng cho tâm ý, hành động vàlời nói của ta và giúp ta sống một đời sống an bình.
Nên, Phật tính là vầng trăng yên bình nơi tự thân của mỗi chúng ta. Phậttính không có mới cũ, vầng trăng không có xưa nay. Mới hay cũ, xưa hay nay,bảo thủ hay hiện đại, tất cả chỉ là những chuyện ngoài da và ấy là chuyện củanhững người nhìn mặt trăng với đôi mắt bị nhòe!
Thích Thái Hòa ( TVCP)

Hạnh phúc tùy cách nhìn!

Mỗi một con người hiện hữu giữa cuộc đời này, đều có hoàn cảnh sống khác nhau; người thì của cải dư thừa ăn ngon mặc đẹp, ngược lại có những kẻ nghèo khổ thiếu thốn mọi bề. Tuy nhiên, về phương diện tinh thần, dù người ta có nhiều tiền bạc đến mấy chăng nữa, nhưng không có cái nhìn thâm sâu vào đời sống thực tế, con người ấy khó mà tìm ra được hạnh phúc trọn vẹn! Còn đối với người tuy đời sống lam lũ túng thiếu, nhưng tâm hồn luôn luôn thanh tịnh và trong sáng thì người ấy vẫn có thể thừa hưởng được những cái hay, cái đẹp vốn có trong cuộc đời này. Vì thế, hạnh phúc hay khổ đau còn phải tùy thuộc vào cách nhìn của mỗi người!
Sống trên cõi đời này, ai mà chẳng mong muốn mình có được ấm no, hạnh phúc? Người ta không chỉ cầu mong cho bản thân, mà còn ao ước những người thân quen cũng được an lành và sung túc. Có lẽ vì nhu cầu đó, nên con người mới dùng hết khả năng của tự thân để suy tính làm ăn, hy vọng tương lai sau này đời sống sẽ được huy hoàng và tươi sáng. Theo cách suy nghĩ này có lẽ chưa ổn thỏa cho lắm, bởi vì, có biết bao nhiêu người đã từng hứa hẹn hạnh phúc đời mình ở một ngày mai, nhưng mấy ai thỏa mãn với ước mơ đó? Và như thế, người ta vô tình bỏ quên đi những gì đẹp đẽ, an vui đang có trong hiện tại. Ông ngoại, bà mẹ, anh trai, chị gái, em bé thơ dại và những điều kiện khác nữa cũng là yếu tố tích cực để làm nên hạnh phúc. Thế nhưng, ta không chịu tiếp nhận và thừa hưởng, để rồi một ngày nào đó khi người thân yêu xa lìa, chia cách thì lại hối tiếc trong muộn màng! Có thể nói rằng, lối sống hờ hững với người thân và lãng quên những gì ta đang có, là sự thiếu sót và thiệt thòi vô cùng lớn lao cho cả một kiếp người!
Thói quen của chúng ta là việc này làm chưa xong lại lo tính tới những công việc khác. Thậm chí đến khi ngồi vào trong bữa ăn rồi, nhưng tâm tư vẫn chưa được yên ổn. Công việc luôn luôn hối thúc ta phải ăn cho nhanh để còn phải đi làm cái này hoặc giải quyết chuyện nọ v.v… Và cứ thế, ta bận rộn suốt cả cuộc đời, đến khi tắt hơi thở rồi nhưng mọi chuyện vẫn chưa giải quyết xong. Có lẽ vì quá bận rộn và lo lắng như thế, cho nên sống trên cuộc đời này ít ai có được niềm vui sướng toàn vẹn, đa phần là gặp nhiều phiền não trái ngang!
Thực ra, bất cứ ai cũng phải làm việc cho dù ít hay nhiều. Tuy nhiên, đối với người có cái nhìn thấu đáo được mọi vấn đề của cuộc sống thì ngay trong mỗi việc làm của họ đều có khả năng đem lại sự an lạc mà không cần phải chờ đợi sau khi hoàn tất công việc. Đó là sự thật, đòi hỏi chúng ta cần phải chiêm nghiệm từ bản thân mình để thấy ra được lẽ thật ấy. Có những người đặt hi vọng rằng, nếu mình đi tới ở được nơi môi trường đó và sống chung với con người đó, chắc chắn sẽ đem lại hạnh phúc lớn. Thế nhưng, khi về sống với nhau rồi lại có những nỗi khổ niềm đau khác phát sinh. Và như vậy, ước mơ kia chỉ là bóng dáng ảo tưởng của cái tôi bày vẻ ra và để phục vụ cho chính nó, còn căn cứ trên sự thật thì lại khác biệt. Thực ra, hạnh phúc là thái độ sống ở nơi mỗi người chứ không nhất thiết phải thay đổi hoàn cảnh hoặc vì những điều kiện khách quan khác.
Hạnh phúc trước hết là người có tâm hồn trong sáng và tự do. Tâm tư người ấy không bị vướng kẹt vào những chuyện đã xảy ra trong quá khứ và chẳng bận lòng trông ngóng hay chờ đợi bất cứ việc gì ở tương lai. Bởi cả hai khuynh hướng này đều không có thực tế, nếu tâm tư người nào thường bị vướng kẹt vào hai ý niệm trên thì cuộc sống trở nên bất an khổ sở! Vì lẽ đó, cho nên đức Phật dạy rằng:
Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
(Kinh Nhất dạ hiền giả - Trung Bộ III).
Bài kinh trên cho chúng ta thấy rằng, hạnh phúc được làm bằng chất liệu của hiện tại. Và chỉ cần tiếp xúc trọn vẹn với những gì đang có mặt trong hiện tại, ta có thể tận hưởng được niềm an vui một cách toàn vẹn rồi, không cần phải chờ đợi gì nữa cả! Mặt khác, mạng sống của con người quá mong manh và giả tạm, không ai có thể biết chắc rằng, mình sẽ tồn tại được bao lâu trên cõi đời này. Do đó, hứa hẹn và trông chờ những gì tốt đẹp ở ngày mai là sự suy nghĩ vô cùng sai lầm, làm uổng phí và thiệt thòi cho cả một kiếp người!
Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta cần phải biết nhìn lại chính mình để khám phá và thừa hưởng những gì đang có. Ví dụ ta có hai con mắt sáng là điều kiện rất lớn để đem lại hạnh phúc, nhưng đôi lúc ta không hề để ý tới và chẳng biết trân quý đến nó. Khi con mắt dính bụi bặm hoặc bị thương tích bởi tai nạn xe cộ thì ta mới thấy được sự hiện hữu và giá trị của đôi mắt vô cùng lớn lao! Chúng ta thừa biết rằng, có những người do phước đức thiếu kém, khi sinh ra đã bị mù lòa cả hai mắt, suốt cuộc đời họ chẳng bao giờ nhìn thấy người thân quen, đất trời, cỏ cây và sông núi. Mơ ước lớn nhất của họ là chỉ cần nhìn thấy được người thân yêu và cảnh vật xung quanh thôi cũng cảm thấy hạnh phúc lắm rồi, chứ không đòi hỏi gì thêm nữa cả! Trong khi đó, chúng ta có hai con mắt sáng trưng, muốn ngắm nhìn cái gì cũng được; bầu trời trong xanh, đám mây trắng bay đi lơ lửng, hàng cây xanh tươi ven đường, hoa mai vàng nở rộ, dòng sông uốn lượn quanh co chuyên chở những cụm hoa lục bình lững lờ trôi chảy và còn nhiều vẻ đẹp thiên nhiên khác nữa. Thế nhưng, ta lại chối bỏ niềm hạnh phúc đó, để rồi than thân trách phận và muốn phải như thế này hay được như thế nọ thì quả thật uổng phí biết bao nhiêu? Do vậy, khi có cái nhìn rộng rãi và thâm sâu ta sẽ phát hiện được giá trị đích thực của cuộc sống, từ đó dù ở bất cứ hoàn cảnh nào đi nữa, ta vẫn thừa hưởng niềm an lạc một cách toàn vẹn.
Để có cái nhìn sâu sắc và thấu triệt được mọi vấn đề của cuộc sống, bạn chỉ cần lặng lẽ quan sát về những hoạt dụng của thân tâm mình và hoàn cảnh đương tại một cách rõ ràng, khách quan và trung thực. Dù bất cứ ở đâu, tiếp xúc với ai bạn cũng nên quan sát như thế. Mọi sự việc diễn biến ra như thế nào bạn ghi nhận y như vậy, không cần phải sử dụng thêm phương pháp gì nữa cả. Việc quan sát này không để cho tâm ý xao lãng hoặc buông lơi đương tại, và chẳng cần phải nỗ lực để đạt được một mục đích cao siêu nào đó. Bởi nhiều khi sự cố gắng ấy là do cái “tôi” âm thầm tạo dựng ra, để thỏa mãn cho cái tôi vi tế hơn, chứ chưa phải phương pháp hữu hiệu giúp cho ta vượt thoát sinh tử khổ đau. Chỉ đơn giản là, khi đi thì rõ biết mình đang đi, ngồi xuống nhận biết toàn thân ta đang ngồi xuống, khi nâng tách trà lên uống, bạn nhận biết hương vị thơm ngon của trà, thế thôi! Thật giản dị và tự nhiên, không cần phải làm theo một quy định hay nguyên tắc nào cả. Khi tâm ý không bị vướng kẹt vào đâu, ngay trong giây phút ấy bạn được tự do, an lạc và giải thoát. Lúc bấy giờ bạn sống giữa cuộc đời này, cho dù gặp nhiều khó khăn ngang trái đến mấy chăng nữa, nhưng tâm hồn bạn vẫn luôn luôn được thênh thang, an bình và tự tại!

Viên ngộ

DIỆU NGHĨA HOA SEN TRONG PHẬT GIÁO

Hoa sen hay Liên hoa là loài hoa thanh khiết thiêng liêng có vị trí tôn quý đặc biệt trong giáo nghĩa cùng với sức phát triển bao trùm trên nền văn hóa Phật giáo. Để nắm vững đặc điểm thù thắng đó trong Phật giáo, thiết nghĩ chúng ta cũng nên tìm hiểu hoa sen về phương diện thực vật học, kế đến sẽ phác họa vài nét về vị trí hoa sen trong niềm tin tôn giáo cổ xưa, và sau cùng đến phần hoa sen trong Phật giáo. 

Niềm tin và Trí tuệ


Đức tin Đại thừa chính là đức tin của trí tuệ, là đức tin biết hiến tặng tình thương rộng lớn và cao cả đến cho hết thảy mọi người, mọi loài.
Chỉ cần Thầy tu thôi !
Quý vị biết không, gần đây có nhiều người đến khuyên tôi thế nầy: “Thầy ơi, lúc nầy Thầy cứ tu đi thì mọi việc sẽ tốt đẹp, Thầy đừng làm chi hết, bởi vì Thầy có làm chi thì sẽ đụng tới người ta, chỉ cần Thầy tu thôi là yên hết.”
Tôi cười và nói: Xin cảm ơn quý vị - đó là một lời khuyên và lời khuyên ấy đã được nói một cách thật lòng, nhưng chưa đúng hoàn toàn.

Người thổi hồn vào gỗ


Mười năm không phải là  nhiều nhưng Đại đức   Thích Thắng Phước đã bỏ ra ngần ấy thời gian để mày mò, tìm hiểu và học hỏi cùng với không biết bao nhiêu tâm huyết để cho ra đời trên 100 tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ sinh động, độc đáo. Bà con Phật tử và khách tham quan trìu mến đặt cho thầy danh hiệu “Người thổi hồn vào gỗ” khi tận mắt chiêm ngưỡng không gian điêu khắc tại chùa Linh Thắng, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
thoihon_08.jpg
Đại đức Thích Thắng Phước
 
thoihon_06.jpg
Hộ Pháp
 
thoihon_12.jpg
Tâm sự với chúng tôi, Đại đức bộc bạch: “Lâm Đồng là vùng đất cao nguyên có rất nhiều loại cây quý. Nhiều năm qua, nhìn bà con xẻ thân cây lấy gỗ còn bộ rễ “trần ai” với hình thù xù xì, xấu xí, thô ráp làm củi đốt cũng không xong, dễ bị cho là đồ phế thải. Điều này đã làm cho tôi cảm thấy tiếc rẻ, trăn trở và không hiểu sao dưới mắt tôi khi ngắm những bộ gốc rễ ấy lại nảy sinh những cảm xúc dạt dào khó tả. Từ đó, tôi hình dung và phác họa hình thù sao cho phù hợp với dáng cây hoặc gốc rễ, sau đó là chặt bỏ những rễ nhánh không cần thiết, rồi đục đẽo chăm chút cho đến khi hoàn thiện tác phẩm…”.
thoihon_13.jpg
Đức Bồ Tát Di lặc
thoihon_14.jpg
Đức Phật Di Đà phóng  quang
Trong nghệ thuật điêu khắc, cái khó nhất là sắp xếp bố cục, trang trí cảnh và vật sao cho phù hợp, tương đồng. Chính vì vậy mà không thể ấn định thời gian cho từng loại tác phẩm. Tất cả đều tùy thuộc vào cảm xúc của nghệ nhân. Gốc cây mang về, phải dành nhiều thời gian để ngắm nghía, hình dung và chọn thế sao cho phù hợp với tác phẩm, gần gũi với cuộc sống đời thường.
Những tác phẩm điêu khắc gỗ chủ đề Phật giáo nổi bật như Thánh tượng Phật Thích Ca, Phật Di Lặc, Bồ tát Quán Thế Âm, Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma, Hộ pháp, Tiêu diện v.v… đã được thầy tạo nên bằng đôi bàn tay khéo léo cùng với lòng đam mê nghệ thuật. Tác giả đã gởi trọn tâm hồn và tình cảm của mình qua các đường nét khắc họa tôn tượng cùng hoa văn thật sống động, tinh xảo, giúp người cầu nguyện cảm thấy gần gũi và dễ nhập tâm hơn. Nhiều loại gỗ quý còn tỏa hương thơm làm tăng thêm phần thiêng liêng, toát lên vẻ đẹp thánh thiện của từng tôn tượng. Thầy cho biết thêm: Ưu điểm của tượng điêu khắc gỗ là khi vận chuyển không bị bể gãy, hạn chế trầy xước, vân gỗ đẹp tự nhiên, màu sắc đa dạng, có độ bền thử thách cùng thời gian…

thoihon_15.jpg
thoihon_25.JPG
Tượng Bồ Tát Chuẩn Đề
Hầu hết các tượng thờ tại chùa Linh Thắng hiện nay đều được chế tác từ các loại gỗ quý trên 500 tuổi. Ngoài tượng Phật, Bồ tát, chùa còn chế tác và trưng bày các tác phẩm điêu khắc gỗ với các chủ đề khác như Phước-Lộc-Thọ, tứ linh v.v… Nhờ vậy, Phật tử và khách hành hương đến chùa, sau khi chiêm bái, lễ Phật còn được thưởng thức những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ thật sinh động, độc đáo. Nghệ nhân tu sĩ Thích Thắng Phước ước mơ có được một không gian để triển lãm trên 100 tác phẩm nghệ thuật này trong thời gian tới.

Bài, ảnh LINH TOÀN

Vai trò của đạo đức trong việc phát triển kinh tế xã hội



 

Phật giáo thừa nhận tầm quan trọng của sự ổn định kinh tế dựa trên những nền tảng sống đạo đức. Lợi ích xã hội không nên hiểu một cách hạn hẹp như là chỉ tích góp tài sản vật chất. Phật giáo nhấn mạnh vào phương tiện đúng đắn cho việc đạt được tài sản vật chất.
Khái niệm “kinh tế học Phật giáo” đã trở nên có ý nghĩa từ sau khi cuốn “Nhỏ Thì Đẹp” (Small is Beautiful) của E.F. Schumacher được xuất bản vào cuối bán thế kỷ 20. Kinh tế học hiện đại, được xác định như một ngành khoa học xã hội với những phương pháp cụ thể - đặc điểm của khoa học xã hội và tự nhiên, đã xem tất cả những vấn đề đạo đức là nằm bên ngoài lĩnh vực kinh tế. Khái niệm ‘kinh tế học Phật giáo’, mà nó có phần mới mẽ, có thể được xem như một nỗ lực liên hệ kinh tế học với những vấn đề đạo đức phát xuất từ giáo lý Phật giáo truyền thống, tìm cách đặt khía cạnh kinh tế đời sống xã hội trên một nền tảng đạo đức vững chắc. Schumacher nhận xét rằng Phật giáo có một triết học kinh tế mà về truyền thống nó được thể hiện ở nơi khái niệm “chánh mạng” (sammā ājīva).
Một trong những xu hướng gây lo ngại nhất trong đời sống hiện đại là việc tách rời những công trình khoa học ra khỏi những giá trị con người. Nhiều phương diện hạnh phúc con ngưuời đã bị ảnh hưởng tiêu cực trong một vài thập kỷ qua là một kết quả của sự tách rời này. Do đó, việc tìm kiếm phương cách thuộc trí tuệ, triết học và thực hành, để tạo nên một sự hoà hợp đúng đắn giữa khoa học và những giá trị con người là điều cấp thiết. Tư tưởng Phật giáo hết sức thích hợp cho việc đưa đến sự hoà hợp này. Phật giáo xem việc phát triển kinh tế-xã hội là một tiến trình kép bao gồm việc phát triển những điều kiện sống vật chất và những phẩm chất sống thuộc đạo đức. Bất kỳ khái niệm phát triển nào mà nó bỏ qua điều này và gây phương hại cho điều kia, theo Phật giáo, được xem là không thích hợp và không cân xứng. Phật giáo cũng thừa nhận một vài trình tự mang tính ưu tiên liên quan đến tiến trình kép của việc phát triển xã hội này. Theo trình tự ưu tiên này, phẩm chất sống đạo đức không nên phụ thuộc vào việc truy đuổi những giá trị vật chất.
Việc sử dụng khoa học và công nghệ hiện đại rõ ràng đã cách mạng hóa những điều kiện vật chất của đời sống hiện đại. Những thành tựu của khoa học và công nghệ trong lĩnh vực vật chất đã đưa đến một niềm tin chung, chúng là những phương tiện duy nhất cho việc phát triển kinh tế-xã hội. Những khái niệm chung về phát triển xã hội cũng được quyết định bởi niềm tin này, và sự thật này được phản ánh nơi các quốc gia ngày nay được xem là phát triển. Tiêu chuẩn duy nhất của việc phát triển kinh tế-xã hội là việc thể hiện khối lượng hàng hóa vật chất được sản xuất và tiêu thụ.
Phương tiện sản xuất đúng và sai, những giới hạn đúng và sai đối với những gì được sản xuất và tiêu thụ, và việc phân phối công bằng những hàng hoá được sản xuất thì ít được quan tâm. Bỏ qua yếu tố đạo đức trong việc phát triển kinh tế-xã hội, điều đó sẽ nhanh chóng đưa loài người đi đến kết quả là tự chuốc lấy thất bại và hủy diệt. Do đó, suy nghĩ thấu đáo dựa trên tuệ quán Phật giáo về vai trò của đạo đức mà nó có những hàm ý bao quát liên quan đến sự phát triển kinh tế-xã hội hiện đại, có thể được xem là một vấn đề vô cùng cấp thiết.
Những vấn đề thực nghiệm hay khoa học liên quan đến sự phát triển kinh tế-xã hội rõ ràng không thể giống với những vấn đề đạo đức. Những vấn đề thực nghiệm thì được giải quyết bằng việc thông qua phương pháp điều tra này, còn những vấn đề đạo đức thì được giải quyết bằng việc thông qua phương pháp điều tra khác. Tuy nhiên, nói rằng trong việc xem xét những vấn đề liên quan đến một đời sống thoả mãn cũng như lợi ích và hạnh phúc của con người nói chung, những vấn đề đạo đức thì không có liên quan thì đó là một sai lầm nghiêm trọng. Những vấn đề khoa học không phải là những vấn đề đạo đức, nhưng những vấn đề đạo đức không phải hoàn toàn không liên quan đến các vấn đề khoa học, trong ngữ cảnh này chúng ta nên xem xét lại về hạnh phúc và lợi ích của con người.
Sự thực rằng việc đồng ý chung về các vấn đề đạo đức là khó đạt được. Điều này bởi vì có những bất đồng căn bản về những đại tiền đề mà chúng trình bày những nguyên tắc đạo đức được những truyền thống khác nhau chấp nhận. Các triết gia luôn quan tâm việc nghiên cứu những nguyên tắc quy phạm hợp lý để thực hiện những đánh giá đạo đức có giá trị. Mặc dù không có sự đồng ý cuối cùng trong sự nghiên cứu này, những thảo luận triết học ít ra có thể giúp loại trừ một vài quan điểm không đáng tin cậy và đưa ra những điều khác như là có thể dễ chấp nhận hơn. Trong mọi lĩnh vực sống của con người, Phật giáo ưu tiên quan điểm sống đạo đức; và trong vô số ngữ cảnh mà ở đó những giá trị đạo đức đã được đưa ra, có một số nguyên tắc cơ bản đã được nói rõ, những nguyên tắc này phù hợp với những quan điểm đạo đức chung của con người có lý trí. Những gì con người làm, cũng như những gốc rề tâm lý của những gì họ có khuynh hướng làm, đã được mô tả trong giáo lý Phật giáo như là thiện và bất thiện (về phương diện đạo đức).
Theo Phật giáo, sự phân biệt này phải được xác định bằng việc xem xét kinh nghiệm chung của con người về những kết quả lâu dài của các hành động dựa trên những tác nhân cá nhân. Phật giáo cũng quan tâm đến những gì thường được hiểu như là Luật Lệ Vàng về đạo đức, nó hướng dẫn việc hành xử của chúng ta theo một cách thức mà theo đó chúng ta không làm cho người khác những gì mà chúng ta không muốn người khác làm cho mình. Tương ứng với cơ sở lý thuyết này, việc phân tích đạo đức Phật giáo là nhận ra ba gốc rễ của điều xấu ác hay hành vi bất thiện (akusalamala), đó là tham, sân và si. Trong kinh Kālāma chúng ta thấy rằng, khi hành xử con người bị chi phối sâu nặng bởi tâm thức tham, sân và si, thì kết quả không phải là hạnh phúc mà là khổ đau và tổn hại.
Khái niệm “con người kinh tế” được phát triển trong ngữ cảnh kinh tế học hiện đại mà nó tách người ta ra khỏi “con người đạo đức” đã tạo nên một hố sâu không thể vượt qua giữa kinh tế học và những giá trị con người. Adam Smith, “cha đẻ kinh tế học” đã phủ nhận quan điểm rằng, những hoạt động kinh tế của con người có thể luôn được điều chỉnh hay sửa đổi bằng những giá trị đạo đức. Lord Keynes, người ủng hộ học thuyết này, đã nhấn mạnh trong suốt thời kỳ suy thoái kinh tế toàn cầu vào năm 1930 rằng, những xem xét đạo đức không những không thích đáng mà còn cản trở sự phát triển kinh tế.
Như đã lưu ý ở trên, Phật giáo xem tham (lobha) là một gốc rễ của hành xử bất thiện (akusalamala). Trong giáo lý đức Phật, tham được xem là nguyên nhân của đời sống không thỏa mãn (dukkha), và con đường đạo đức được đặt ra trong Phật giáo là tìm cách giải thoát con người ra khỏi đời sống không thoả mãn bằng việc đoạn trừ tham. Do đó, Phật giáo đôi khi bị xem như là một trở ngại đối với việc phát triển kinh tế, bởi vì mỗi khi vắng mặt lòng tham hay mong muốn tìm kiếm tải sản vật chất, những động cơ thúc đẩy cho hoạt động kinh tế được cho là bị cản trở. Nhiều quốc gia trên thế giới được xem là đang đi theo toàn cầu hoá và kinh tế thị trượng tự do, điều bị thúc đẩy bởi lòng tham. Những quốc gia về truyền thống coi trọng những giá trị đạo đức Phật giáo cũng không còn ngoại lệ. Từ cái nhìn Phật giáo, các xã hội chịu sự ảnh hưởng ấy là đang bị thúc đẩy bởi những lực đẩy mà giáo lý Phật giáo tìm cách loại trừ, đó là những lực đẩy của lòng tham. Từ cái nhìn Phật giáo, thứ dẫn dắt con người đi theo chiều hướng ấy là si, gốc rễ bất thiện khó đoạn trừ.
Hệ thống giá trị Phật giáo không tán thành việc hi sinh những giá trị con người vì mục đích kinh tế. Tài sản vật chất không được xem như là mục đích tối hậu. Phật giáo thừa nhận sự cần thiết của việc có đủ tài sản vật chất, nhờ đó con người có thể hoàn thiện khả năng cao hơn là con người đạo đức và tâm linh. Phát triển kinh tế chỉ để thoả mãn những đòi hỏi do tham muốn vô độ gây ra, và việc sản xuất quá mức các thứ hàng hóa chỉ để phục vụ cho những tham muốn vô hạn mà nó đang khai thác những nguồn tài nguyên giới hạn, là đang đi ngược lại quan điểm của Phật giáo, rằng tài sản vật chất chính nó không phải là mục đích. Sự phát triển xã hội không thể chỉ được đong đo bằng khối lượng hàng hóa vật chất được sản xuất và tiêu thụ. Sự phát triển xã hội cần đến sự hiện diện, và sự tham gia tích cực của một cộng đồng có đời sống đạo đức và tâm linh cao ở trong xã hội; sự thừa nhận và hỗ trợ thích hợp của xã hội để duy trì cộng đồng ấy. Khía cạnh này được thể hiện rõ nơi kinh Kasibhāradvāja.
Bài kinh kể lại cuộc viếng thăm của đức Phật đến nơi làm việc của một nông dân Bà-la-môn tên là Kasibhāradvāja, khi vị này đang cùng với các nhân công của mình chuẩn bị đồng áng để gieo trồng cho vụ mùa sắp tới. Kasibhāradvāja tỏ ra khó chịu khi nhìn thấy một vị khất sĩ với bình bát cầm tay trong lúc ông đang lao động sản xuất kinh tế nông nghiệp. Ông bảo đức Phật hãy trồng trọt giống như ông và sống bằng những gì mà Ngài làm ra bằng chính sức lao động của Ngài. Trả lời điều này, đức Phật nói với vị Bà-la-môn rằng, chính Ngài đã tham gia vào công việc sản xuất mà ở nhiều khía cạnh nó tương tự với những gì vị Bà-la-môn đang làm, nhưng về phẩm chất thì cao hơn nhiều, trong ý nghĩa rằng sản phẩm cuối cùng của nó là vượt qua cái chết. Trong ngữ cảnh này, đức Phật đã so sánh những phương cách rèn lyện tâm lý và đạo đức như tín (saddha), tinh tấn (tapo), và tuệ (panna) với những dụng cụ được sử dụng trong trồng trọt, và qua đó cho thấy giá trị của việc rèn luyện tâm lý và đạo đức là có giá trị cao hơn.
Từ cái nhìn Phật giáo, một cộng đồng mà nó toàn tâm với mục đích hoàn thiện đạo đức là từ bỏ mọi sở hữu vật chất; và việc cộng đồng đó tìm kiếm sự hỗ trợ vật thực từ cộng đồng cư sĩ thì không bị xem là một gánh nặng kinh tế đối với xã hội. Một cộng đồng như vậy được thừa nhận như là một nguồn đạo đức cho tổng thể xã hội, vì họ được xem là những con người thích hợp nhất mang đến cho xã hội những giá trị đạo đức. Sự phát triển xã hội cần đến giá trị đạo đức ấy. Kinh Phật có đề cập đến chuyện một vị Bà-la-môn than phiền về cô con gái của mình, do vì cô gái đã nhiệt tâm ủng hộ tăng đoàn. Ông bảo rằng cô gái đang ủng hộ những người không tạo ra của cải vật chất, sống đời sống thờ ơ, từ bỏ trách nhiệm làm việc và lao động.
Trả lời của cô gái một cách thích hợp đã trình bày quan điểm của Phật giáo về những giá trị đạo đức và xã hội. Cô chỉ ra rằng những vị khất sĩ mà cô cúng dường là những người tinh cần, họ đang thực hiện công việc cao quý nhất là giải thoát tâm thức khỏi tham và sân. Chính từ cái nhìn này mà ở trong cộng đồng Phật giáo, người cư sĩ xem tăng đoàn là một phước điền vô lượng. Trong truyền thống Phật giáo, hàng cư sĩ ủng hộ vật chất cho tăng đoàn được xem là một việc làm phước thiện lớn. Việc cung cấp những nhu yếu phẩm cho tăng đoàn được cho là tạo cơ hội cho hàng cư sĩ thực hiện bổn phận của mình, để qua đó họ có thể đạt đến những kết quả tâm linh cao hơn.
Đáp lại sự cúng dường ấy, những thành viên của tăng đoàn phải hướng dẫn cho hàng cư sĩ những vấn đề đạo đức hợp lý để họ sống một đời sống mãn nguyện và cân bằng. Vào thời đức Phật, mối liên hệ này được xem là điều cần nên được khuyến khích để đem lại lợi ích lớn hơn cho xã hội. Kinh Sigālovāda, một bản kinh trình bày mô thức Phật giáo về phát triển kinh tế xã hội được đặt nền tảng trên đạo đức, xem cộng đồng tôn giáo đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống các mối quan hệ xã hội, tạo nên lợi ích cho xã hội.
Phật giáo không phản đối sự giàu có vật chất, cũng không xem nghèo đói như một giá trị. Phật giáo gộp nghèo đói chung với khổ đau, và do đó phải xoá bỏ nghèo đói trong xã hội. Tuy nhiên, việc chỉ quan tâm tìm kiếm tài sản vật chất được xem là một thái độ thể hiện sự mù quáng. Người nào nếu không mưu cầu tài sản vật chất cũng không theo đuổi việc phát triển đạo đức, họ có thể được so sánh với người bị mù hai mắt. Nếu họ chỉ mưu cầu tài sản vật chất nhưng lại bỏ qua việc phát triển đạo đức thì họ được so sánh với người bị chột một mắt. Quan điểm này của Phật giáo cho thấy rằng, hạnh phúc của con người được hiểu là ở nơi cả điều kiện kinh tế lẫn đạo đức.
Phật giáo khuyên chúng ta áp dụng những nguyên tắc đạo đức như từ bi, cảm thông, lương thiện và công bằng vào trong đời sống kinh tế. Theo Phật giáo, phát triển kinh tế xã hội mà không thực hiện theo những phẩm chất đạo đức ấy thì được xem là phi đạo đức và không có giá trị. Có một vài giá trị xã hội, chẳng hạn như các giá trị liên quan đến đời sống gia đình, dường như đang bị đe doạ bởi con người chỉ quan tâm đến việc kiếm tiền.
Ngay ở những quốc gia như Tích Lan, nơi những giá trị sống truyền thống chính yếu có gốc rễ từ Phật giáo, những người mẹ trẻ đã rời bỏ gia đình để tìm kiếm những công việc có lợi tức cao hơn ở những quốc gia xa xôi khác, do bị sự giàu có vật chất lôi kéo. Kết quả là, những đứa trẻ trong độ tuổi phát triển đã không có được tình thương và sự quan tâm thích đáng, cũng không có được sự hướng dẫn đạo đức mà những bậc làm cha mẹ phải có trách nhiệm truyền trao cho chúng, dẫn đến sự đỗ vỡ các giá trị đạo đức trong gia đình. Những người chồng và vợ xa nhau trong một thời gian lâu dài đã đánh mất những giao ước hôn nhân; và rồi gia đình đỗ vỡ, xa hơn là gây nguy hại cho hạnh phúc con cái của họ.
Nhiều quốc gia đang phát triển đã lấy mức độ phát triển kinh tế làm vị trí quốc gia mà không quan tâm đến đời sống đạo đức và tâm linh của dân chúng. Những quốc gia này đang đi ngược lại giáo pháp Phật giáo mà nó quan tâm đến một nền tảng đạo đức đúng đắn dành cho đời sống kinh tế. Liên hệ đến vấn đề này, ở đây xin đề cập một trường hợp nỗi bật, đó là những thứ bại hoại đã xâm nhập vào những xã hội truyền thống do việc đẩy mạnh du lịch bừa bãi gây ra. Nếu không có sự phòng ngừa thích đáng trong việc phát triển du lịch, thì chính du lịch trở thành một trong những nguồn có khả năng du nhập vô số những điều xấu xa vào một đất nước. Kinh nghiệm gần đây tại những quốc gia đang phát triển đã cho thấy rằng, việc buôn bán ma túy, kinh doanh tình dục, buôn bán trẻ em bất hợp pháp và sự gia tăng việc khiêu dâm là những điều tệ hại liên quan đến việc phát triển du lịch bừa bãi.
Hoạt động kinh tế theo cách thức trên là đang đi ngược lại khái niệm chánh mạng của Phật giáo mà nó bao gồm việc loại bỏ những hoạt động sản xuất kinh tế đưa đến việc làm băng hoại đạo đức. Giáo pháp Phật giáo định rõ rằng buôn bán vũ khí, buôn bán người, buôn bán thịt, buôn bán các chất gây say nghiện và buôn bán độc dược là những loại nghề nghiệp đem lại những kết quả gây tổn hại đạo đức. Đây chỉ là một vài nghề nghiệp tương ứng với những điều kiện vào thời đức Phật. Trong ngữ cảnh xã hội hiện đại, chúng ta có thể xem nhiều loại nghề nghiệp khác mà về phương diện kinh tế thì có hiệu quả, nhưng về phương diện đạo đức thì rất đáng khiển trách.
Phật giáo thừa nhận tầm quan trọng của sự ổn định kinh tế dựa trên những nền tảng sống đạo đức. Lợi ích xã hội không nên hiểu một cách hạn hẹp như là chỉ tích góp tài sản vật chất. Phật giáo nhấn mạnh vào phương tiện đúng đắn cho việc đạt được tài sản vật chất.
Đạo đức Phật giáo yêu cầu việc tìm kiếm tài sản kinh tế nên được thực hiện bằng những phương tiện đúng đắn, tránh việc bóc lột. Phật giáo cũng chú ý đến tầm quan trọng của việc chia sẻ tài sản kiếm được bằng một phương thức công bằng, đạo đức và hợp lý. Đặc biệt quan tâm đến trách nhiệm của nhà nước trong việc cung cấp cơ hội bình đẳng cho dân chúng để họ có được sự ổn định kinh tế, và trong việc thực hiện những thỏa thuận về sự đóng góp tài sản hợp lý mà qua đó ngăn chặn việc xuất hiện một khoảng cách rộng giữa người giàu và người nghèo. Phật giáo chỉ ra rằng, nếu chúng ta tạo nên những điều kiện đưa đến sự gia tăng đói nghèo trong xã hội, thì những giá trị đạo đức sẽ bị đánh mất, và xã hội có thể đi dần đến chỗ huỷ diệt tổng thể.
Việc khai thác quá mức các nguồn tài nguyên bất chấp kết quả suy thoái môi trường thiên nhiên, và việc làm suy kiệt những nguồn tài nguyên không thể tái tạo đang trở thành một đặc tính toàn cầu về loại kinh tế hiện đại, là điều không thể chấp nhận được theo Phật giáo. Phật giáo quan tâm đến sự thật rằng, thiên nhiên tác động bất lợi trở lại việc khai thác tham lam các nguồn tài nguyên. Trong Phật giáo, sự suy thoái các tiêu chuẩn đạo đức được xem là gây nên những ảnh hưởng có hại đến trật tự tự nhiên, thậm chí ảnh hưởng đến sự vận hành của mặt trời, mặt trăng và các hành tinh, ảnh hưởng đến quy trình thời tiết khí hậu và lượng mưa.
Xu hướng toàn cầu hóa và kinh tế thị trường tự do có khuynh hướng làm tăng trưởng những ham muốn, lôi kéo con người vào việc tìm kiếm những hàng hóa xa hoa sang trọng. Phương tiện truyền thông đóng một vai trò tích cực thông qua một bộ máy tuyên truyền, khắc sâu một cách quá mức những giá trị vật chất vào trong giới trẻ. Nó trở nên khó khăn, đặc biệt cho những người có độ tuổi thanh thiếu niên, để đề kháng lại sự cám dỗ của những hàng hóa xa hoa, khi tưởng tượng rằng những thứ ấy có thể khiến cho họ hạnh phúc hơn. Một sự mê loạn tham lam như vậy cuối cùng đưa đến sự thất vọng và chán chường, khi họ nhận ra rằng họ không có đủ tài chính để sở hữu những gì họ khao khát.
Nhiều thập kỷ trước, Schumancher đã nhận xét rằng:
“Một thái độ sống mà nó chỉ tìm cách thực hiện việc mưu cầu tài sản như là mục đích duy nhất – nói tóm lại, là chủ nghĩa vật chất – thì không thích hợp với thế giới này, bởi vì nó không bao hàm bên trong nó nguyên tắc giới hạn, trong khi môi trường mà ở đó nó được đặt để là hoàn toàn có giới hạn. Và môi trường đang cố nói với chúng ta rằng những căng thẳng đang trở nên quá mức.”
Rõ ràng những gì mà Schumacher nhận xét ngày nay càng đúng hơn. Phật giáo thừa nhận sự thật rằng, về phương diện tâm lý, việc thoã mãn các thú vui giác quan là không có điểm cuối cùng. Chính vì lý do này mà sự mãn nguyện được xem là tài sản lớn nhất. Phật giáo giới thiệu một khái niệm về tài sản, được gọi là tài sản cao quý, bao gồm những phẩm hạnh đạo đức như: Saddhā (tín/niềm tin đúng đắn), Sīla (giới/phẩm hạnh đạo đức), Hiri (tàm/hỗ thẹn khi làm điều xấu), Ottappa (quý/sợ hãi về điều xấu đã làm), Cāga (rộng lượng), Suta (lắng nghe và học tập) và Paññā (trí tuệ). Phát triển kinh tế mà bỏ qua những giá trị đạo đức này thì được xem là không thích đáng.
Các xã hội dường như đang đi chệch khỏi mục đích, rằng phát triển kinh tế là để đem lại hạnh phúc, an ninh và sự ổn định xã hội. Mối đe doạ lớn lao nhất đối với xã hội hiện nay là sự mất cân bằng sinh thái, kết quả của việc truy tìm tài sản vật chất thiếu những ràng buộc đạo đức. Vẫn còn cơ may để thoát khỏi thảm hoạ đang xảy ra mà loài người phải đối mặt, nếu hành động chữa trị được thực hiện nhanh chóng bằng sự suy nghĩ đúng đắn, là việc phát triển kinh tế phải tính đến các ràng buộc đạo đức. Phật pháp thật sự cần thiết cho điều này.
Pahalawattage Premasiri - Nguyên Hiệp dịch

Không Có Gì Để Vội Vã

Thích Thái Hoà
Nói vội vã đưa ta đi tới đâu? Hành động vội vã đưa ta đi tới đâu? Suy nghĩ vội vã đưa ta đi tới đâu? Chúng đưa ta đi tới với sai lầm, với thất vọng và khổ đau. Chúng đưa ta đi tới với bệnh hoạn già nua và hủy diệt sự sống một cách nhanh chóng.

Sai lầm thì không có an toàn. Thất vọng thì không còn có niềm tin để sống. Khổ đau thì sự sống héo mòn, bệnh hoạn và nhanh chóng bị hủy diệt.

Tinh tấn trong Phật giáo không phải là vội vã, ngay cả vội vã chứng đạo, vội vã về Tịnh độ hay vội vã làm Phật. Tại sao? Vì đạo thì không có gì để vội vã; Tịnh độ là quê hương của chư Phật, được tạo nên từ những chất liệu của tâm thức không vội vã và đã là Phật thì không còn có bất cứ cái gì trước đó, sau đó và ngay đó để vội vã. Người nào có tinh tấn, người đó biết rất rõ trong đời sống của họ mỗi ngày cần phải làm gì và họ đã làm hết lòng với công việc đó trong mỗi ngày, nhưng không vội vã. Không vội vã không có nghĩa là chậm chạp. Hành động không vội vã, vì trong hành động ấy có chất liệu của tuệ giác. Hành động có tuệ giác là hành động trầm tĩnh, sắc bén, linh hoạt và sống động, nhưng hoàn toàn không vội vã.

Phật thì không còn vội vã, ngay cả vội vã truyền đạo và vội vã giúp người khác chứng đạo. Kinh Phật đã nói cho ta biết điều đó. Kinh nói rằng, sau khi đức Phật thành đạo, Ngài không có vội vã chuyển Pháp luân mà Ngài đã dành một thời gian khá lâu để chiêm nghiệm những gì Ngài mới chứng ngộ và sống với nó. Phật thì không còn bị giới hạn bởi không gian và không còn bị thời gian hủy diệt, nên đời sống của Ngài là sống mà không vội vã. Và Ngài đã đem đời sống không vội vã ấy để truyền dạy cho mọi người và hiến tặng cho hết thảy muôn loài. Các nhà bác học hiện đại cũng vậy, họ nghiên cứu và làm các công việc của họ không vội vã, và họ cũng không công bố những thành quả nghiên cứu của họ một cách vội vã. Họ đã đem cái không vội vã để học tập, để nghiên cứu và cái thành quả không vội vã ấy để hiến tặng cho đời.
 Vậy, Mục đích của chúng ta tu học là để làm gì? Là để có khả năng nói được những lời nói không vội vã; để có khả năng hành động không vội vã và để có khả năng tư duy không vội vã và quan trọng nhất là có khả năng sống không vội vã và đem chất liệu không vội vã đó để hiến tặng cho đời.

Nhờ có tư duy không vội vã, nên trong đời sống hàng ngày, ta không vội vã khen ai và cũng không vội vã chê ai; không vội vã theo ai và cũng vội vã chống đối ai; không vội vã ghét ai và cũng không vội vã thương ai; không vội vã kiêu hãnh và cũng không vội vã tự ty. Thương ai hay ghét ai trong vội vã ta sẽ ân hận; khen ai hay chê ai trong vội vã ta sẽ ân hận; theo ai hay chống đối ai trong vội vã ta sẽ ân hận; vội vã kiêu hành hay vội vã tự ty ta sẽ ân hận,… Sống không vội vã, ta sẽ lấy được những hạt giống ân hận ra khỏi tâm ta, ra khỏi nơi những lời nói và hành động của ta, và ra khỏi ngay nơi đời sống của ta.

Ở trong đời, ai sống với tâm không ân hận bởi những lời nói và bởi những hành động của mình, người đó có sức mạnh, người đó có khả năng tự tin, người đó có hạnh phúc và người đó là người thành công ngay trong cuộc sống nầy.

Trong mỗi ngày có hai mươi bốn tiếng đồng hồ, ta chỉ cần dành một giờ cho sự thực tập đời sống không vội vã. Nghĩa là ta thực tập đi không vội vã, ngồi không vội vã, đứng không vội vã, nằm không vội vã, ăn uống không vội vã, nói cười không vội vã, làm việc không vội vã, lái xe không vội vã, ngắm trăng sao, nghe chim hót hay nhìn những bông hoa nở với tâm hồn trầm tĩnh, không vội vã,… nghĩa là trong một ngày ta chỉ dành một giờ thực tập tiếp xúc mọi sự hiện hữu trong ta và chung quanh ta với tâm hồn tĩnh lặng, không vội vã.

Xã hội con người hiện nay, người ta làm bất cứ cái gì cũng vội vã, vội vã là một hình thức khác của hấp hối. Sống hấp hối, thì sự sống chẳng còn có gì thú vị nữa cả. Văn minh khoa học là để giúp đỡ cho con người sống không vội vã, không bận rộn với đời sống vật chất, nhưng do lòng tham của con người, nên họ đã biến mình trở thành đời sống hấp hối và trở thành những dụng cụ hấp hối của khoa học vật chất và phản bội những gì tốt đẹp mà họ đang có và phản bội những gì văn minh mà khoa học đang hiến tặng cho họ.

Thọ mạng của ta ngắn hay dài, an hay bất an, chúng hoàn toàn tùy thuộc vào tâm tĩnh lặng sâu hay cạn của ta. Tâm ta tĩnh lặng sâu, những hạt giống vội vã trong tâm ta không có điều kiện để hoạt khởi, khiến những mạch máu trong thân thể ta lưu thông tự nhiên, tim ta không bị những áp lực của lòng tham hay tâm sân hận, để phải co bóp vội vã, ấy là một trong những điều kiện giúp ta có một thân thể thanh thoát, nhẹ nhàng, ít bệnh hoạn và thọ mạng lâu dài.

Trong khi một xã hội con người đang hấp hối, không có được một giây phút nào cho tâm hồn tĩnh lặng, cho những hoạt động không vội vã, thì núi vẫn xanh, suối vẫn chảy reo mỗi ngày, không gian vẫn thênh thang và mây trời vẫn thong thả bay giữa không gian thênh thang ấy, muôn vật đang sống và làm việc với chính nó một cách trọn vẹn chẳng có gì vội vã cả và chỉ có con người sống với  lòng tham nên vội vã mà thôi! Nhưng, thực ra khi một người biết sống hết lòng, thì ngay trong đời sống của con người, chẳng có cái cái gì để cho ta vội vã cả.

Health

tin tức